Theo Bộ Công Thương, Đề án quy hoạch điện VIII được xây dựng trên cơ sở định hướng tại Nghị quyết 55-NQ/TW ngày 11/2/2020 của Bộ Chính trị, trên cơ sở 3 quan điểm cốt lõi. Thứ nhất, phát triển điện lực đi trước một bước nhằm cung cấp đủ điện, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu điện cho sinh hoạt của nhân dân. Thứ hai, phát triển đồng bộ nguồn và lưới; thực hiện đầu tư phát triển điện lực cân đối giữa các vùng, miền trên cơ sở sử dụng hợp lý, có hiệu quả nguồn tài nguyên năng lượng sơ cấp của mỗi vùng miền; không xây dựng thêm các đường dây truyền tải điện liên miền giai đoạn 2021 - 2030; hạn chế tối đa việc xây dựng mới các đường dây tải điện liên miền giai đoạn 2031 - 2045. Thứ ba, tiếp tục xem xét, phát triển thủy điện, năng lượng tái tạo và năng lượng mới (điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối, điện rác…) với quy mô phù hợp. Xem xét lộ trình giảm các nguồn điện than, phát triển các nguồn điện khí LNG một các hợp lý. Tăng cường nhập khẩu điện trên cơ sở tuân thủ các văn bản ghi nhớ đã cam kết.

Theo Đề án Quy hoạch điện VIII, công suất cực đại năm 2025 đạt khoảng 59.389 - 61.357 MW; năm 2030 khoảng 86.493 - 93.343 MW; năm 2035 khoảng 113.952 - 128.791 MW; năm 2040 khoảng 135.596 - 162.904 MW và năm 2045 khoảng 153.271 - 189.917 MW.

Điện thương phẩm: Năm 2025 đạt khoảng 335,0 - 346,6 tỉ kWh; năm 2030 khoảng 491,2 - 530,4 tỉ kWh; năm 2035 khoảng 651,3 - 736,9 tỉ kWh; năm 2040 khoảng 779,7 - 938,3 tỉ kWh và năm 2045 khoảng 886,9 - 1.101,1 tỉ kWh.

Điện sản xuất và nhập khẩu: Năm 2025 đạt khoảng 378,3 - 391,4 tỉ kWh; năm 2030 khoảng 551,3 - 595,4 tỉ kWh; năm 2035 khoảng 727,0 - 822,5 tỉ kWh; năm 2040 khoảng 864,9 - 1.040,8 tỉ kWh và năm 2045 khoảng 977 - 1.231,1 tỉ kWh.

Về phát triển nguồn điện, năm 2025, tổng công suất các nhà máy điện khoảng 102.590 - 105.265 MW. Trong đó, thủy điện đạt 25.323 MW chiếm tỷ lệ 24,1 - 24,7%; nhiệt điện than 29.679 MW, chiếm tỷ lệ 28,2 - 28,9%; nhiệt điện khí (tính cả LNG) 14.117 MW, chiếm tỷ lệ 13,4 - 13,7%; nguồn năng lượng tái tạo ngoài thủy điện (điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối,...) 29.618 - 31.418 MW, chiếm tỷ lệ 28,9 - 29,8%; nhập khẩu điện 3.853 - 4.728 MW chiếm tỷ lệ 3,7 - 4,5%.

Năm 2030, tổng công suất các nhà máy điện khoảng 130.371 - 143.839 MW. Trong đó: thủy điện và thủy điện tích năng đạt 26.684 - 27.898 MW chiếm tỷ lệ 19,4 - 20,5%; nhiệt điện than 40.899 MW chiếm tỷ lệ 28,4 - 31,4%; nhiệt điện khí (tính cả LNG) 27.471 - 32.271 MW chiếm tỷ lệ 21,1 - 22,4%; nguồn năng lượng tái tạo ngoài thủy điện (điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối, ...) 31.380 - 37.030 MW chiếm tỷ lệ 24,3 - 25,7%; nhập khẩu điện 3.936 - 5.742 MW chiếm tỷ lệ 3 - 4%.

Năm 2045, tổng công suất các nhà máy điện khoảng 261.951 - 329.610 MW, trong đó: thủy điện và thủy điện tích năng đạt 35.677 - 41.477 MW chiếm tỷ lệ 12,6 - 13,6%; nhiệt điện than 50.949 MW chiếm tỷ lệ 15,4 - 19,4%; nhiệt điện khí (tính cả LNG) 61.683 - 88.533 MW chiếm tỷ lệ 23,5 - 26,9%; nguồn năng lượng tái tạo ngoài thủy điện (điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối, ...) 104.900 - 137.610 MW chiếm tỷ lệ 40,1 - 41,7%; nhập khẩu điện 8.743 - 11.042 MW chiếm tỷ lệ 3,3%.

Quy hoạch điện VIII nhằm mục tiêu đảm bảo cung cấp đủ nhu cầu điện trong nước, đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của cả nước với mức tăng GDP bình quân là khoảng 6,6%/năm trong giai đoạn 2021 - 2030 và khoảng 5,7%/năm trong giai đoạn 2031 - 2045.