Quyết định 266/QĐ-TTg về Kế hoạch thực hiện Tuyên bố toàn cầu về chuyển đổi điện than sang năng lượng sạch vừa được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành. Mục tiêu cụ thể của Kế hoạch này như sau:
a) Giai đoạn đến năm 2030
● Nghiên cứu thí điểm lắp đặt hệ thống thu gửi carbon cho nhà máy nhiệt điện than sử dụng công nghệ cũ, hiệu suất thấp.
● Xem xét dừng hoạt động khoảng 540 MW (NMNĐ Phả Lại, công suất 440 MW; NMNĐ Ninh Bình, công suất 100 MW) nếu các nhà máy điện than đã hết đời sống kinh tế, công nghệ cũ, hiệu suất thấp không giải quyết cải thiện được vấn đề hiệu suất và phát thải.
● Nghiên cứu, thí điểm áp dụng công nghệ đốt kèm nhiên liệu sinh khối, amoniac tại các nhà máy nhiệt điện than để giảm phát thải CO2. Khuyến khích các nhà máy điện than đốt kèm và chuyển dần sang sử dụng nhiên liệu sinh khối, amoniac.
● Ưu tiên khai thác, sử dụng triệt để và hiệu quả các nguồn năng lượng tái tạo phục vụ sản xuất điện; tăng tỉ lệ điện năng sản xuất từ các nguồn năng lượng tái tạo (gồm cả thủy điện) đạt khoảng 29,2 - 37,7%.
● Đẩy mạnh triển khai thực hiện Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả nhằm đạt mục tiêu tiết kiệm từ 8 - 10% tổng năng lượng tiêu thụ quốc gia.
● Phấn đấu hoàn thành đầu tư dự án nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận trong khoảng 5 năm, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng, phát triển và bảo vệ môi trường.
b) Giai đoạn 2031 - 2040
● Kiên quyết dừng hoạt động các nhà máy điện than có hiệu suất thấp, đã hết đời sống kinh tế, công nghệ cũ và không có khả năng cải tạo.
● Không cấp phép và xây dựng mới nhà máy nhiệt điện than. Khuyến khích các nhà máy nhiệt điện than chuyển đổi nhiên liệu sang đốt kèm hoặc thay thế hoàn toàn bằng nhiên liệu sinh khối, amoniac. Thực hiện chuyển đổi nhiên liệu các nhà máy nhiệt điện than sang đốt kèm nhiên liệu sinh khối hoặc amoniac sau 20 năm vận hành với tỉ lệ đốt kèm bắt đầu từ 20%, tăng dần dần lên 100%.
● Ban hành cơ chế, chính sách, hỗ trợ áp dụng rộng rãi nếu thí điểm có hiệu quả hệ thống thu giữ carbon cho các nhà máy điện than.
● Tiếp tục đẩy mạnh phát triển các nguồn năng lượng tái tạo, nhằm khai thác hiệu quả tài nguyên quốc gia, nâng cao tính tự chủ của ngành điện.
● Tập trung phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo trong nước để tăng độc lập tự chủ, giảm giá thành.
c) Giai đoạn 2041 - 2050
(i) Đến năm 2045:
● Phát triển các nguồn điện sạch tối thiểu 1.160 MW thay thế để bù vào các nguồn điện, đảm bảo cung cấp đủ điện cho hệ thống điện quốc gia để xem xét dừng hoạt động khoảng 1.160 MW (Phả Lại 2 - 600 MW; Na Dương - 110 MW; Formosa Đồng Nai - 450 MW) nhiệt điện than đối với các nhà máy điện than đã hết đời sống kinh tế (nếu không chuyển đổi nhiên liệu).
● Tiếp tục thực hiện chuyển đổi nhiên liệu các nhà máy điện than sau 20 năm vận hành sang đốt kèm sinh khối, amoniac với tổng công suất 18.642 MW; chuyển hoàn toàn các nhà máy nhiệt điện than sang sinh khối, amoniac với tổng công suất 6.990 MW.
(ii) Đến năm 2050:
● Phát triển đủ các nguồn điện sạch thay thế để bù vào các nguồn điện với công suất tối thiểu 3.335 MW, đảm bảo cung cấp đủ điện cho hệ thống điện quốc gia để xem xét dừng hoạt động khoảng 3.335 MW (Uông Bí MR - 600 MW; Hải Phòng 1 - 600 MW, Quảng Ninh - 1200 MW, Cao Ngạn - 115 MW, Cẩm Phả 1&2 - 600 MW, Sơn Động - 220 MW) nhiệt điện than đối với các nhà máy điện than đã hết đời sống kinh tế (nếu không chuyển đổi nhiên liệu hoặc lắp đặt hệ thống thu giữ carbon).
● Thực hiện chuyển đổi nhiên liệu các nhà máy nhiệt điện than sang sử dụng hoàn toàn nhiên liệu sinh khối, amoniac với tổng công suất 25.632 - 28.832 MW; lắp đặt hệ thống thu giữ carbon cho các nhà máy điện than.
d) Giai đoạn từ năm 2050
Định hướng không sử dụng nhiên liệu than cho sản xuất điện.